Tháng Sáu 7, 2022

Chính sách phát triển kinh tế của Nhật Bản và những khuyến nghị cho Việt Nam

Sau khi lên nắm quyền Thủ tướng Nhật Bản năm 2013, ông Shinzo Abe đã đưa các chính sách kinh tế (còn được gọi là Abenomics) nhằm phục hưng nền kinh tế Nhật Bản vốn đang gặp nhiều vấn đề.

Ở thời điểm đó, phần đông người Nhật Bản cho rằng cải cách Abenomics ra đời dường như là một phương thuốc đặc trị và có sứ mệnh lịch sử nhằm phục hưng nền kinh tế Nhật Bản sau “hai thập kỷ mất mát”. Và thực tế đã chứng minh tính đúng đắn của Abenomics khi đã tạo ra những thay đổi tích cực trong đời sống kinh tế cũng như xã hội, chính trị Nhật Bản. Bài viết tập trung phân tích nội dung của các chính sách kinh tế, những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế, qua đó gợi ý một số khuyến nghị cho Việt Nam.

Bối cảnh của chính sách Abenomics

Sau cú sốc bong bóng bất động sản vào đầu những năm 1990, nền kinh tế Nhật Bản được đánh giá là chưa bao giờ thực sự phục hồi và đến năm 2012, kinh tế của đất nước mặt trời mọc đã trải qua “hai thập kỳ mất mát”. Thách thức là rất lớn đối với nền kinh tế Nhật Bản, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô đều không khả quan và ngày càng có xu hướng tiêu cực. Tăng trưởng kinh tế đạt mức thấp và có xu hướng giảm dần, nếu như năm 1990 tốc độ tăng trưởng đạt 4,893% thì năm 2011 thậm chí là tăng trưởng âm 0,115%, năm 2012 cũng chỉ đạt 1,495%. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã luôn giao động 0% trong đó hầu hết các năm đạt âm, năm 2011 là âm 0,237%, năm 2012 là âm 0,057. Đặc biệt nợ công của chính phủ tăng cao, nếu năm 1990 nợ công chỉ mới là 64,3% GDP thì đến năm 2011 đã tăng gấp gần 4 lần lên mức 222,087% và năm 2012 thậm chí còn cao hơn, đạt 229,008%. Tỷ lệ thất nghiệp trong suốt 20 năm qua đều có xu hướng tăng và ở mức cao, nếu như năm 1990 chỉ là 2,1% thì đến năm 2011 là 4,583% và năm 2012 là 4,235%. Những số liệu trên phản ánh những khó khăn của nền kinh tế Nhật Bản, đi sâu phân tích nội tại tình hình kinh tế, chính trị và xã hội Nhật có thấy các thách thức cụ thể, có thể chia thành hai nhóm:

Thứ nhất là các thách thức từ bên trong nội tại nền kinh tế.

Niềm tin của nguời dân và doanh nghiệp tiếp tục suy giảm. Đến năm 2012, Nhật Bản đã trải qua 20 năm suy thoái sâu sắc, toàn diện và kéo dài, đang rất khó khăn và lúng túng trong việc tìm lối thoát ra. Nhiều cuộc cải cách với các Thủ tướng khác nhau đều thất bại, dẫn đến mất niềm tin của người dân và doanh nghiệp vào sự phục hồi của nền kinh tế, GS Furuta Motoo thuộc trường đại học Tokyo Nhật Bản cho rằng: “Bây giờ thì đại bộ phận người Nhật lại bi quan về tương lai của đất nước mình. Có nguời cho rằng bản thân việc mất tự tin như vậy chính là vấn đề lớn nhất đối với Nhật Bản hiện nay’’.

Tiếp đến, mô hình phát triển kinh tế bất cập. Mô hình “chính phủ lớn kiểu Nhật Bản’’ thực hiện nhất thể hóa giữa các nhà chính trị, quan chức chính phủ và các doanh nghiệp. Tam giác quyền lực này nay trở thành lực cản của sự phát triển, không còn đóng góp nhiều cho đất nước, các nhóm lợi ích này chủ yếu móc nối, chia nhau thành quả đã đạt được của nền kinh tế, cố gắng bảo vệ các quyền lợi được ban cho của mình.

Sự già hóa dân số và gánh nặng phúc lợi xã hội cũng gây ra nhiều khó khăn. Với tỷ lệ sinh thấp và tuổi thọ cao, ngay từ những năm cuối thế kỷ XX, Nhật Bản đã là một trong những quốc gia có tỷ lệ người cao tuổi cao nhất thế giới. Chi phí phúc lợi xã hội tăng lên là mối đe dọa lớn đối với nợ của Chính phủ Nhật Bản, vốn đã ở mức gấp đôi quy mô nền kinh tế. Đồng thời, dân số giảm đi khiến nhu cầu tiêu dùng giảm, càng gây khó khăn cho chính quyền của Thủ tướng Shinzo Abe đang nỗ lực thoát ra khỏi thời kỳ giảm phát.

Thảm họa động đất, sóng thần đã gây ra gánh nặng cho kinh tế đất nước. Nhiều cơ sở hạ tầng và nhà máy thuộc các ngành công nghiệp quan trọng như ô tô, hóa dầu, hạt nhân và chất bán dẫn tại khu vực Đông Bắc Nhật Bản đều bị phá hủy, hư hỏng hoặc bị tác động mạnh bởi trận động đất và sóng thần sau đó.

Thứ hai, các thách thức từ bên ngoài.

Khủng hoảng kinh tế thế giới và sự giảm tốc của các nền kinh tế mới nổi cùng với các cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu dẫn đến thị trường thế giới thu hẹp làm xói mòn những nguồn thu từ nước ngoài của Nhật Bản khiến kinh tế tiếp tục trì trệ. Ngoài ra, việc các quốc gia tại Châu Á – Thái Bình Dương cũng phải chuyển đổi mô hình phát triển thoát khỏi sự lệ thuộc vào xuất khẩu vì thế tăng trưởng kinh tế ở khu vực này ở dưới mức tiềm tăng, nhu cầu hàng hóa và thiết bị từ Nhật Bản cũng bị ảnh hưởng.

Sức ép cạnh tranh kinh tế ngày cành gay gắt trên cả ba cấp độ quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm. Các nền kinh tế mới nổi như NICs, ASEAN, nhất là Hàn Quốc và Trung Quốc đã phát triển rất nhanh và nổi lên như là những đối thủ cạnh tranh và thậm chí lấn át Nhật Bản trong không ít lĩnh vực, thách thức những ngành, lĩnh vực truyền thống có thế mạnh của Nhật Bản. Trong khi đó, những ảnh hưởng tiêu cực từ môi trường chính trị ở khu vực đã trở nên xấu đi. Tranh chấp vùng biển, lãnh thổ và khác biệt về nhận thức lịch sử đã dẫn đến cuộc biểu tình chống Nhật ở Trung Quốc và Hàn Quốc cũng gây ra nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các thị trường truyền thống và rộng lớn trên.

Nội dung của chính sách kinh tế Abenomics

Abenomics được đánh giá là một kế hoạch cải cách đầy tham vọng của ông Shinzo Abe, cho tới nay việc triển khai Abenomics ở Nhật Bản được tạm thời phân định làm hai giai đoạn, hay như một số tài liệu khác gọi là hai phiên bản, phiên bản 1.0 (tạm chia từ tháng 12/2012 đến tháng 10/2015, thời điểm thay đổi nội các lần 2) và phiên bản 2.0 (từ tháng 10/2015…) nhằm đánh giá tác động và dự báo mức độ thành công của Abenomics.

Abenomics 1.0 được ông Shinzo Abe đưa ra ngay từ sau khi tái đắc cử Thủ tướng (12/2012) với ba trọng tâm gồm: chính sách nới lỏng tiền tệ; chính sách tài khóa linh hoạt và chiến lược cải cách cấu trúc nền kinh tế.

Thứ nhất là chính sách tiền tệ nới lỏng. Mục tiêu đầu tiên mà Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) đưa ra là đạt 2% trong 2 năm tới. Một lượng lớn tiền được tung ra kể từ đầu mùa xuân 2013 (với mức cung tiền cơ bản đang từ 130 nghìn tỷ yên tăng lên 270 nghìn tỷ yên) nhằm thay đổi kỳ vọng của thị trường. Chính phủ thực hiện việc mua vào 70% lượng trái phiếu phát hành mỗi tháng, bằng 1% tổng sản lượng, để nhân khối tiền tệ tăng gấp đôi từ 29% đến 56% tổng sản lượng. Ngoài ra, nhằm thúc đẩy đầu tư của các doanh nghiệp, Chính phủ tiến hành đánh thuế tiền tiết kiệm dư dôi của họ và cho biết là chính sách này sẽ được duy trì cho đến khi đạt được hiệu quả mong muốn.

Thứ hai là chính sách tài khóa linh hoạt. Chính phủ đã đẩy mạnh đầu tư công, tăng cường chi tiêu cho trợ cấp xã hội, trả nợ và đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ Olimpic 2020. Qua đó, một gói kích thích kinh tế với 10 nghìn tỷ yên (Q1) đã được đưa ra với mong muốn tạo ra hệ số tác động nhân đôi “tương đương 20 nghìn tỷ yên về giá trị quy mô dự án” vào tháng 1/2013; tiếp tục để đối phó với tác động tăng thuế tiêu dùng từ 5% lên 8% bằng sử dụng gói thứ hai 5,5 tỷ yên (Q2) vào tháng 12/2013. Bên cạnh đó, Chính phủ tiếp tục duy trì củng cố tài khóa thông qua mục tiêu giảm một nửa thâm hụt cơ bản ngân sách vào năm 2015, sao cho khi sử dụng các gói kích thích kinh tế mới được triển khai không kéo theo việc tiếp tục phải phát hành trái phiếu chính phủ.

Thứ ba là tái cấu trúc nền kinh tế. Nội dung chính là tập trung vào cải cách 10 lĩnh vực then chốt, bao gồm: tăng cường quản trị doanh nghiệp; cải cách quản trị quỹ công lập; khuyến khích doanh nghiệp mạo hiểm; cải cách thuế thu nhập doanh nghiệp; robot; tăng cường sự tham gia và tiến bộ của lao động nữ; cho sức khỏe và dịch vụ chất lượng cao. Thủ tướng Shinzo Abe mong muốn trong mười năm tới thu nhập bình quân đầu người của Nhật Bản sẽ tăng thêm 1.500.000 yên (tương đương với 15000 USD) và tăng gấp đôi tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Theo đó, FDI hằng năm của Nhật Bản phải đạt gần 345 tỷ USD.

Để đạt được mục tiêu trên, Chính phủ chủ trương cắt giảm thuế suất doanh nghiệp xuống dưới 30% trong vài năm tới (thay vì mức 35% như hiện nay). Bên cạnh đó là robot hóa nền kinh tế, cần tăng cường sử dụng robot để nâng cao năng suất lao động trong bối cảnh dân số bị giảm và già hóa, Nhật Bản đang hy vọng đến năm 2020, ngành công nghiệp sẽ sử dụng số lượng robot gấp 20 lần so với hiện nay, các ngành còn lại tăng gấp đôi. Ngoài ra, chìa khóa quan trọng của mũi tên thứ ba này chính là việc tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và các hiệp định thương mại tự do khác của Nhật Bản.

Phiên bản Abenomics 2.0 được bắt đầu từ tháng 10.2015 với 3 trụ cột:

Thứ nhất là tăng trưởng kinh tế thêm khoảng 20% GDP. Mục tiêu tăng trưởng GDP 600 nghìn tỷ yên (5000 tỷ USD) vào năm 2020 so với con số GDP 490 nghìn tỷ yên của Nhật Bản trong năm tài khóa 2014.

Thứ hai là tăng cường các biện pháp hỗ trợ nuôi và sinh con. Điều này được giải thích là do tình trạng lão hóa và dân số giảm, ông Abe cam kết hỗ trợ tài chính cho các gia đình và đề ra mục tiêu tăng tỷ lệ sinh lên mức bình quân từ 1,4 lên 1,8 trẻ/bà mẹ. Đồng thời cam kết duy trì dân số luôn ở mức 100 triệu dân từ nay đến năm 2065.

Thứ ba là cải thiện an sinh xã hội. Trong 5 năm tới, Nhật bản sẽ xây dựng thêm nhiều nhà dưỡng lão để giảm bớt gánh nặng cho lao động trẻ, giúp họ yên tâm làm việc hơn, giảm được hàng chục ngàn lao động phải ở nhà chăm sóc cho cha mẹ già. Đây là sự khác biệt lớn nhất trong chính sách Abenomics giai đoạn 2 so với giai đoạn 1.

Chính sách tài khóa mở rộng vẫn được tiếp tục duy trì. Ngày 02/08/2016, Chính phủ Nhật Bản thông qua gói kích thích trị giá 28.100 tỷ Yên (274 tỷ USD) tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng và phúc lợi xã hội; Ngày 11/10/2016, Nhật Bản phê chuẩn gói kích thích thứ hai trong năm 2016 trị giá hơn 4.000 tỷ Yên (40 tỷ USD) nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kích cầu đầu tư và tiêu dùng; Ngày 27/3/2017, Thượng viện Nhật Bản thông qua ngân sách cho năm tài khóa 2017 trị giá 97.400 nghìn tỷ Yên (880 tỷ USD). Đây là quy mô ngân sách lớn nhất từ trước đến nay, với mục tiêu tiếp tục tăng chi tiêu cho an sinh xã hội, quốc phòng và những lĩnh vực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Các thành tựu kinh tế Nhật Bản sau 5 năm (2013 – 2017)

Với việc kiên trì thực hiện các chính sách kinh tế hợp lý của Chính phủ, cộng với sự nỗ lực từ phía doanh nghiệp, kinh tế Nhật Bản ngay từ những thời điểm đầu tiên đã có những chuyển biến tích cực và sau 5 năm thì những con số ấn tượng trong các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô đã nói lên mức độ thành công của chính sách này.

Thứ nhất, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hiệu quả hơn, xuất khẩu tăng. Chỉ số Nikkei 225 liên tục tăng điểm tới 35%, từ mức 10.688 điểm hồi đầu năm 2013 lên ngưỡng 11.000 điểm, đến phiên giao dịch ngày 20/5/2013, chỉ số Nikkei 225 leo lên 15.360 điểm – mức cao nhất trong hơn nửa thập kỷ qua. Tính đến cuối năm 2017, sau 5 năm triển khai Abenomics chỉ số Nikkei 225 đã tăng hơn 150%. Bước sang đầu năm 2018, giá cổ phiếu đã lên đến mức 24.000 Yên lần đầu tiên trong khoảng 26 năm, dấu hiệu của sự thoát khỏi giảm phát càng rõ nét.

Hoạt động của các doanh nghiệp phục hồi, tỷ lệ lợi nhuận thông thường trong ngành công nghiệp sản xuất từ 4,6% tăng lên 8,9%, trong lĩnh vực phi sản xuất lên mức cao kỷ lục tăng từ 3,7% lên 6,0%. Mức thuế hữu hiệu cho các doanh nghiệp trong năm 2017 là 29,97%, đã giảm đáng kể từ mức 37,00% của năm 2012. Số vụ phá sản doanh nghiệp cũng đã giảm 30,3% so với năm 2012. Các ngân hàng cũng đã bắt đầu có dấu hiệu phục hồi khi lãi suất cải thiện có thể làm cổ phiếu ngân hàng có thể tăng lên. Cổ phiếu của Mitsubishi UFJ Financial Group – một trong những tập đoàn tài chính lớn nhất thế giới – và một số công ty khác cũng đã tăng đáng kể từ cuối 2016.

Abenomics góp phần quan trọng vào hạ giá đồng Yên trên thị trường hối đoái và kích thích xuất khẩu. Tiền tệ của Nhật Bản đã mất giá khoảng 30% so với tháng 11/2012, đối với một quốc gia phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu thì rõ ràng đây là con số tuyệt vời. Nếu như năm 2011 xuất khẩu của Nhật Bản ở mức âm 0,246% thì năm 2017 đã đạt 6,793%, ước tính năm 2018 đạt 4,975%. Xuất khẩu tăng sẽ tạo thuận lợi cho đà phục hồi kinh tế đất nước.

Thứ hai, tốc độ tăng trưởng GDP ổn định. Trong quý I/2013, tốc độ tăng trưởng GDP đã tăng 1,3%, là mức tăng trưởng cao nhất của Nhật Bản trong vòng một năm qua, và đạt 2,00% trong cả năm 2013. Tính đến hết quý IV/2017 GDP tăng 0,1% so với quý trước (tính theo năm là 0,5%) và đây là quý tăng trưởng thứ 8 liên tiếp của kinh tế Nhật Bản đưa tốc tăng trưởng kinh tế cả năm 2017 đạt 1,713% (lớn hơn nhiều so với con số âm 0,115% hồi năm 2011). Tuy quý I/2018 tốc độ tăng GDP có giảm 0,2% so với quý trước tuy nhiên, theo ước tính cả năm 2018, vẫn đạt 1,213%.

Nếu xét về quy mô, nền kinh tế Nhật Bản đã đạt tăng trưởng sau 5 năm triển khai Abenomics. Từ 491.408 nghìn tỷ yên năm 2011 lên mức 546.848 nghìn tỷ yên vào năm 2017, dự tính đạt 555.607 tỷ yên vào năm 2018 (mục tiêu chính phủ Nhật Bản đưa ra là 600 nghìn tỷ yên năm 2020).

Thứ ba, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng. Trong tháng 9/2013, CPI đã tăng kỷ lục ở mức 0,7%, trở thành mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 5 năm qua, đưa chỉ tiêu này đạt 0,343% trong cả năm 2013 (lần đầu tiên sau 5 năm từ 2009 thoát khỏi mức âm). Năm 2017 CPI đạt 0,468% và dự tính năm 2018 sẽ đạt mức 1,115%. Việc tăng CPI được đánh giá là do tiêu dùng của cá nhân (chiếm 60% tỷ trong GDP) tăng và chính sách tăng thuế từ 5-8% mà chính phủ đã áp dụng.

Thứ tư, về việc làm, tỷ lệ người có việc làm tăng 4,5%, tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 4,325% xuống còn 2,875%. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên trẻ (25-29 tuổi) cũng giảm từ 5,7% xuống còn 4,7%. Số lao động toàn thời gian đã tăng 2,8%. Tỷ lệ tuyển dụng hiệu quả tăng từ 0,83 lần lên 1,52 lần, lần đầu tiên sau chiến tranh vượt qua giá trị 1 ở tất cả các địa phương. Tỷ lệ tuyển dụng hiệu quả lao động toàn thời gian cũng tăng lên 1,01 lần, nghĩa là cũng vượt quá được giá trị 1. Tỷ lệ tham gia của người lao động nữ đã tăng từ 63,6% lên 69,5%.

Tuy nhiên, theo đánh giá của các nhà phân tích và chuyên gia kinh tế, bất kỳ một kế hoạch cải cách nào cũng kèm theo đó nhiều ý kiến trái chiều và lo ngại. Theo IMF, chính sách Abenomics đang đối mặt nhiều rủi ro, trong đó có tác động của việc tăng chi tiêu công tới núi nợ khổng lồ, hiện đang lớn gấp đôi quy mô của nền kinh tế Nhật Bản và lạm phát cao hơn có thể đẩy lãi suất tăng cao, từ đó làm tăng chi phí vay mượn.

Các khuyến nghị đối với Việt Nam

Thứ nhất, điều hành chính sách vĩ mô, đặc biệt là chính sách tài khóa, tiền tệ cần có sự phối hợp chặt chẽ, tạo thế chủ động và linh hoạt đồng thời đảm bảo an toàn nợ công. Việc điều hành chính sách cần tạo sự kết hợp hiệu quả, cùng hướng, bên cạnh đó cần xác định “liều lượng” phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ ở mức hợp lý. Trong quá trình điều hành chính sách, các cơ quan chức năng cần tính đến độ trễ của chính sách để khi ban hành mức độ tác động đến đời sống xã hội ở mức hợp lý và có những giải pháp dự phòng.

Việt Nam, do chưa có sức mạnh kinh tế như Nhật Bản nên để có thể giảm bớt nợ công, cần căn nhắc vấn đề nâng thuế mà thay vào đó cần quyết liệt thực thi quá trình hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về quản lý nợ công, đồng thời cần có các biện pháp hạn chế sự gia tăng nợ công thông qua việc tăng cường kỷ luật tài khóa; Hình thành các cơ chế để đảm bảo việc quản lý và sử dụng nguồn vốn vay được thực hiện theo một chiến lược thận trọng. Ngoài ra, từ bài học kinh nghiệm của Nhật Bản, các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam cần tính toán, nghiên cứu thực thi một chính sách lãi suất thấp, kiểm soát lạm phát và quản lý nợ nước ngoài/nợ công hiệu quả.

Thứ hai, phát triển kinh tế phải đi đôi với đảm bảo công bằng về mặt xã hội. Mặc dù Việt Nam có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, các chỉ báo kinh tế liên tục tăng, nhưng tính bền vững, đặc biệt sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề an sinh xã hội vẫn còn hạn chế. Thành công bước đầu của Abenomics là do nâng cao được lòng tin của dân vào sự tăng trưởng của kinh tế đất nước, dẫn tới tiêu dùng và đầu tư gia tăng. Bên cạnh đó, mức nợ công cao nhưng có tới 90% là nợ trong nước, để có thể chủ động trong việc đưa ra các chính sách tài khóa, tiền tệ mở rộng Chính phủ rất cần có được sự ổn định đối với khoản nợ này.

Việt Nam cần chú trọng tới việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế, đảm bảo công bằng và ổn định xã hội. Thông qua các chính sách tiền lương, thu nhập, an sinh xã hội ổn định tạo sự an toàn, tin tưởng cho người dân bên cạnh đó, môi trường đầu tư, kinh doanh công bằng, lành mạnh; được sự hỗ trợ từ phía Chính phủ cũng sẽ gia tăng lòng tin từ cộng đồng doanh nghiệp.

Thứ ba, tái cơ cấu kinh tế cần được thực hiện mạnh mẽ, quyết liệt. Kinh nghiệm tại Nhật Bản cho thấy, chính quyền Abe đã khởi động một loạt biện pháp cải cách. Mới đây, Thủ tướng Nhật Bản tiếp tục cam kết sẽ tăng cường theo đuổi chiến lược tăng trưởng thông qua việc thúc đẩy chương trình cải cách, cam kết sẽ có thêm nhiều phụ nữ gia nhập lực lượng lao động, bãi bỏ quy định không hợp lý trong ngành công nghiệp, tự do hóa khu vực nông nghiệp và chuẩn bị để thích ứng với Hiệp định CPTPP…

Đặc biệt chú trọng đến phát triển khoa học, công nghệ Chính phủ cần cam kết sẽ có biện pháp thúc đẩy các lĩnh vực khoa học công nghệ thông qua thành lập trung tâm nghiên cứu đẳng cấp quốc tế để hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong các ngành công nghệ cao, sử dụng ít tài nguyên và theo kịp xu hướng phát triển của thế giới. Quan tâm đến đầu tư cho giáo dục, phát triển đội ngũ lao động có chất lượng cao, lấy chất lượng, hiệu quả lao động là thước đo để đánh giá và trả lương cho người lao động.

Ngoài ra, Việt Nam cũng cần tích cực tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế thế giới bằng việc tiếp tục tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương mỏ rộng (CPTPP) và các hiệp định thương mại tự do khác với các quốc gia và khu vực trên thế giới./.

Ths. Trần Thị Hà (Viện CL&CSTC)

(Visited 34 times, 1 visits today)